I. TÊN GỌI DI TÍCH
- Tên thường gọi: Đền Chúa Bà hay còn gọi là Đền Bà.
- Tên tự: Linh Từ Chúa Bà (Đền Chúa Bà linh thiêng).
- Đã được công nhận xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 244/QĐ - UBND ngày 29 tháng 01 năm 2011 của UBND tỉnh Hà Giang cũ, nay là xã Vĩnh Tuy, tỉnh Tuyên Quang.

II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH
1. Địa điểm phân bố di tích
- Đền Chúa Bà được xây dựng lại trên nền đất cũ, bằng phẳng, toạ lạc bên bờ sông Lô, thuộc thôn Phố Mới, xã Vĩnh Tuy, tỉnh Tuyên Quang.
- Phía Đông giáp sông Lô, Phía Tây, phía Nam giáp đất gia đình ông Nguyễn Văn Chức và gia đình bà Hoàng Thị Luyện. Phía Bắc giáp con đường nhỏ xuống bến sông.
2. Đường đi đến di tích
Đền Chúa Bà cách Ủy ban nhân dân xã khoảng 800m về phía Nam, từ phường Hà Giang xuôi theo quốc lộ số 2 đường tỉnh lộ Tuyên Quang, đến km 80 là đến xã Vĩnh Tuy. Từ trung tâm thôn Phố Mới rẽ trái theo đường bê tông ra bến sông Lô, đi 100m là đến đền. Đền cách bờ sông Lô 30m. Đền Chúa Bà giáp sông, gần đường giao thông đi lại rất thuận tiện.

III. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ
1. Đền Chúa Bà có lịch sử lâu đời: Nhưng đến nay không ai còn nhớ rõ đền được xây dựng từ năm nào. Theo lời kể của các cụ cao tuổi thôn Phố Mới thì từ trước những năm 1947 - 1949 đã có ngôi đền này. Thời kỳ đó xung quanh khu vực đền còn hoang vu, rập rạp. Đền được dựng bằng tre, nứa, lá đơn sơ, giản dị. Ban thờ chính đặt tượng Chúa Bà hay còn gọi là thánh Mẫu Liễu Hạnh. Người cung tiến tượng Chúa Bà là một lái buôn ở miền xuôi lên buôn chuyến trên thuyền dọc theo sông Lô, thường qua lại ngôi đền này, nhân dân trong vùng quen gọi là ông hai Nồi Đất. Trước kia khi giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, đường đi nhỏ hẹp, thanh vắng. Hàng hoá vận chuyển lên Vĩnh Tuy chủ yếu bằng thuyền ngược dòng sông Lô và thường neo đậu ở bến sông này, người dân địa phương thường gọi là bến đền. Trên bến, dưới thuyền, trở thành nơi giao lưu buôn bán nhộn nhịp với nhiều loại hàng hoá như: Lâm sản, muối, mắm, gốm sứ..v.v.
2. Có truyền thuyết kể rằng: Xưa kia, có vợ chồng ở miền xuôi lên buôn bán dọc theo bến sông, họ vẫn qua lại nghỉ chân dưới bóng cây đa trên bến sông thấy có tấm bia đá ở cạnh gốc đa, họ đều đặn thắp hương để cầu may. Dần dần, hai vợ chồng nọ đi xa về gần gặp nhiều may mắn, công việc làm ăn ngày càng khá giả, giàu có, họ cảm nhận được sự linh thiêng và thầm biết ơn mảnh đất “địa linh” này, cho nên đã góp vốn giúp đỡ người dân nơi đây làm ăn buôn bán, thoát khỏi đói nghèo. Khi vợ chồng nọ chết đi, vào ngày rằm, mùng 1, nhân dân địa phương vẫn đèn nhang đều đặn, cầu những điều bình an, may mắn và cầu siêu cho họ ở tấm bia dưới gốc đa. Sau này, không rõ khoảng thời gian nào đền Chúa Bà đã được lập nên trên bến đền nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng cho nhân dân quanh vùng.
Quan Hoàng Mười toạ trên bệ gỗ theo tư thế bán kiết già, hai tay đặt lên đùi, mặt trắng, đầu chít khăn màu vàng, mặc trang phục màu vàng. Tượng tạc bằng gỗ mít, cao 40cm.
- Ở góc trái của Hậu cung được bài trí một pho tượng có tên: Tượng Chầu Bé, ở trong khám, toạ trên bệ gỗ, mặc trang phục màu xanh, hai tay đặt trên gối. Tượng được tạc bằng gỗ mít, cao 65cm.
Toàn bộ hệ thống tượng thờ được nhân dân trong vùng và khách thập phương cung tiến có niên đại vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.
Qua cách bài trí tượng cho thấy đền Chúa Bà là nơi thờ Mẫu được bài trí theo kiểu “tiền Mẫu hậu Phật”.


IV. CÁC HÌNH THỨC SINH HOẠT VĂN HOÁ DÂN GIAN, LỄ HỘI DIỄN RA TẠI DI TÍCH
Trước đây khi đền Chúa Bà được lập lên nhân dân địa phương chỉ đến thắp hương vào ngày mùng 1, ngày rằm hàng tháng.
Hiện nay, ngoài ngày mùng 1 và ngày rằm, nhân dân địa phương còn tổ chức các ngày lễ trong năm tại đền giống như những ngôi đền miền xuôi (tính theo âm lịch) như:
- Ngày mùng 10 tháng Giêng - Lễ thượng nguyên là lễ dâng sao giải hạn cầu bình an....tổ chức cho nhân dân trong vùng và khách thập phương.
- Ngày mùng 06 tháng 02 - Lễ dâng Chúa Bà.
- Ngày mùng 08 tháng 3 - Lễ bái vọng Chúa Liễu Hạnh.
- Ngày mùng 10 tháng 3 - Lẽ dâng hương bái vọng Vua Hùng.
- Ngày mùng 10 tháng 4 - Lễ vào hè “lễ nhập hạ” được tổ chức để cầu xin thời tiết thuận hoà, mát mẻ, thuận lợi cho đời sống sinh hoạt và sản xuất.
- Ngày 25 tháng 5 - Lễ cơm mới.
- Ngày 24 tháng 6 - Lễ ra hè hay “lễ tán hạ” cầu thời tiết thuận hoà cho công việc thu hoạch mùa màng, đời sống ấm no.
- Ngày 10 tháng 8 - Lễ dâng hương tưởng niệm Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
- Ngày 10 tháng Chạp - Lễ tất niên với ý nghĩa kết thúc một năm lao động sản xuất để đón mừng năm mới với nhiều điều tốt lành.


V. TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN CỦA DI TÍCH
Đền Chúa Bà được xây dựng đầu thế kỷ XX, vật liệu chủ yếu là tre, nứa, lá. Trải qua thời gian và những biến cố lịch sử, đền Chúa Bà bị hư hỏng. Năm 1982, ngôi đền được xây dựng lại trên nền đất cũ và được UBND xã Vĩnh Tuy kiện toàn thành lập Ban quản lý đền theo quy định. Hiện nay đền do Bà Tào Thị Nhã (SN 1972), cư trú ở thôn Phố Mới, xã Vĩnh Tuy là người trực tiếp trông coi ngôi đền. Đến nay tuy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có sự tranh chấp nào với các tổ chức và cá nhân trong vùng. Hàng năm nhà đền sử dụng kinh phí công đức của nhân dân trong xã và khách thập phương quyên góp để tu sửa nhỏ các hạng mục kiến trúc của đền./.